Theo Dự thảo Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) đăng ngày 21/09/2026, cách phân loại lại nhóm thực phẩm đang được đề xuất lại theo hướng làm rõ từng nhóm thực phẩm đặc thù. Tôi sẽ bám theo khái niệm trong dự thảo, không lấy định nghĩa hiện hành của Thông tư 43/2014/TT-BYT để thay thế.
1. Thực phẩm bổ sung
Dự thảo xác định theo hướng đây là thực phẩm thông thường được bổ sung một hoặc nhiều chất dinh dưỡng hoặc chất có tác dụng dinh dưỡng/sinh lý nhằm bổ sung vào chế độ ăn.
Điểm quan trọng là phải phân biệt với TPBVSK. Không phải cứ sản phẩm có vitamin, khoáng chất, acid amin, probiotic hoặc một thành phần có hoạt tính là mặc nhiên trở thành TPBVSK; còn phải xem bản chất, thành phần, dạng sản phẩm và mục đích sử dụng.
Ví dụ về mặt định hướng phân loại: đồ uống bổ sung vitamin/khoáng chất, thực phẩm bổ sung protein hoặc một số sản phẩm bổ sung dinh dưỡng sử dụng như thực phẩm có thể nằm trong nhóm này nếu đáp ứng tiêu chí tương ứng.

2. Thực phẩm bảo vệ sức khỏe
Đây tiếp tục là nhóm được tách riêng và quản lý chặt hơn.
Đặc trưng cơ bản là sản phẩm được sử dụng để bổ sung vào chế độ ăn hằng ngày nhằm duy trì, tăng cường, cải thiện chức năng của cơ thể hoặc giảm nguy cơ mắc bệnh.
Nhóm này thường gắn với các thành phần có hoạt tính như:
- Vitamin, khoáng chất;
- Acid amin;
- Enzyme;
- Probiotic;
- Các chất có hoạt tính sinh học;
- Chiết xuất thực vật, động vật hoặc các thành phần có tác dụng sinh lý.
Điểm phân biệt quan trọng với thực phẩm bổ sung không chỉ nằm ở việc “có thêm chất gì”, mà còn ở mục đích sử dụng và cách sản phẩm được định hướng công dụng.
Ví dụ sản phẩm chứa chiết xuất kế sữa/Silymarin nhưng định hướng “hỗ trợ bảo vệ gan, hỗ trợ chức năng gan” sẽ có cơ sở để xem xét theo nhóm TPBVSK, thay vì chỉ nhìn vào việc sản phẩm có bổ sung Silymarin.
3. Thực phẩm dinh dưỡng
Đây là phần cần đặc biệt cẩn thận vì trong hệ thống pháp luật ATTP có nhiều khái niệm gần nhau như thực phẩm dinh dưỡng y học, thực phẩm dùng cho chế độ ăn đặc biệt và sản phẩm dinh dưỡng dùng cho trẻ nhỏ.
Đối với thực phẩm dinh dưỡng y học, yếu tố cốt lõi là sản phẩm được chế biến hoặc phối chế đặc biệt để quản lý chế độ ăn của người bệnh, sử dụng dưới sự giám sát của nhân viên y tế.
Ví dụ có thể là sản phẩm dinh dưỡng được thiết kế riêng cho người mắc một bệnh hoặc tình trạng sức khỏe nhất định, thay vì sản phẩm bổ sung dinh dưỡng dành chung cho người khỏe mạnh.
Do đó không nên dùng chung thuật ngữ “thực phẩm dinh dưỡng” để gom tất cả sữa bột, protein powder, meal replacement… vào một nhóm.
4. Thực phẩm dành cho trẻ nhỏ
Dự thảo tiếp tục dành cơ chế quản lý riêng đối với sản phẩm dinh dưỡng dành cho trẻ nhỏ, đặc biệt các sản phẩm dành cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ.
Việc phân loại phải dựa vào độ tuổi sử dụng và mục đích dinh dưỡng, ví dụ:
- Công thức dành cho trẻ sơ sinh → phục vụ nhu cầu dinh dưỡng của trẻ trong giai đoạn đầu đời.
- Công thức tiếp theo → dành cho trẻ ở giai đoạn tuổi tiếp theo theo phạm vi được quy định.
- Thực phẩm bổ sung cho trẻ nhỏ → sử dụng bổ sung cùng chế độ ăn của trẻ trong độ tuổi tương ứng.
Nhóm này được quản lý chặt do đối tượng sử dụng là nhóm nhạy cảm và yêu cầu về thành phần dinh dưỡng, chỉ tiêu chất lượng, an toàn, nhãn và quảng cáo khác với thực phẩm thông thường.
Điểm quan trọng khi bên mình phân loại sản phẩm
Không nên phân loại chỉ bằng một thành phần. Theo hướng của dự thảo, tôi sẽ xem đồng thời:
Thành phần + hàm lượng → dạng sản phẩm → đối tượng sử dụng → mục đích sử dụng → hướng dẫn sử dụng → claim/công dụng.
Ví dụ:
| Sản phẩm | Hướng phân loại cần xem xét |
|---|---|
| Nước uống bổ sung vitamin C | Thực phẩm bổ sung |
| Bột protein dùng bổ sung dinh dưỡng | Có thể là thực phẩm bổ sung |
| Viên Silymarin – hỗ trợ chức năng gan | TPBVSK |
| Viên glucosamine – hỗ trợ khớp | TPBVSK |
| Công thức dinh dưỡng dành riêng cho người bệnh | Thực phẩm dinh dưỡng y học |
| Infant formula 0–6 tháng | Sản phẩm dinh dưỡng cho trẻ nhỏ |
| Follow-on formula 6–12 tháng | Sản phẩm dinh dưỡng cho trẻ nhỏ |
Một điểm tôi lưu ý: Dự thảo Luật chủ yếu tạo khung phân loại. Những ranh giới kỹ thuật kiểu “hàm lượng bao nhiêu thì chuyển từ thực phẩm bổ sung sang TPBVSK”, danh mục hoạt chất, dạng bào chế nào thuộc nhóm nào… không nên tự suy ra từ Luật nếu dự thảo chưa quy định. Phần này còn phụ thuộc Nghị định/Thông tư và quy chuẩn triển khai sau này.
Nếu mục tiêu của anh là đánh giá tác động đến hồ sơ công bố, tôi có thể bóc chính xác định nghĩa từng nhóm trong Dự thảo sửa đổi ATTP 21/09 và đặt cạnh định nghĩa hiện hành tại NĐ 15 + TT 43, để xem sản phẩm nào có nguy cơ bị chuyển nhóm sau khi Luật mới ban hành.


